Thanh tra chuyển giá hơn 2.400 doanh nghiệp, truy thu 500 tỷ đồng

(Ảnh minh hoạ).

(Ảnh minh hoạ).

Theo số liệu công bố chiều ngày 30/12 từ Bộ Tài chính, tính từ đầu năm đến tháng 12, cơ quan chức năng đã thanh tra, kiểm tra 2.421 doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá và giảm lỗ hàng nghìn tỷ đồng.

Cụ thể, sau thanh tra các doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết và có dấu hiệu chuyển giá, cơ quan chức năng đã thực hiện giảm lỗ trên 4.400 tỷ đồng, truy hoàn và phạt trên 500 tỷ đồng.

Về công tác thanh kiểm tra, thống kê của Bộ Tài chính cũng cho thấy, tính đến tháng 12, cơ quan thuế đã thực hiện thanh tra, kiểm tra hơn 68.000 doanh nghiệp, bằng 108,5% cùng kỳ năm 2014. Tổng số thuế tăng thu qua công tác này là trên 10.200 tỷ đồng, bằng 97% cùng kỳ năm 2014. Số tiền thuế nộp vào ngân sách là gần 7.000 tỷ đồng, bằng 90,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính từ đầu năm tới tháng 12, cơ quan chức năng đã chuyển cơ quan công an trên 1.600 hồ sơ vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, dấu hiệu trốn thuế; đề nghị phối hợp đôn đốc nợ đọng thuế; có dấu hiệu chiếm đoạt tiền hoàn thuế; tăng cường xử lý các đơn vị sử dụng hóa đơn bất hợp pháp…

Bộ Tài chính cho biết, trong thời gian tới, sẽ đẩy mạnh thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế theo phương pháp quản lý rủi ro, dựa trên cơ sở thu thập, phân tích thông tin về người nộp thuế. Đồng thời, tiếp tục tăng cường thanh tra chuyên đề về chuyển giá, hoạt động giao dịch liên kết, thương mại điện tử, ngân hàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dược phẩm trong năm tới.

Phương Dung

 

Advertisements

Còn 15.600 tỷ đồng vốn nhà nước “đọng” trong 5 lĩnh vực nhạy cảm

Số liệu công bố tại Hội nghị tổng kết năm 2015 của Bộ Tài chính diễn ra chiều 30/12 cho thấy, trong 11 tháng năm 2015, cả nước đã cổ phần hóa được 173 doanh nghiệp. Như vậy, lũy kế giai đoạn 2011-2015 đã cổ phần hóa được 422 doanh nghiệp, đạt 78% kế hoạch);

Thoái vốn đầu tư vào 5 lĩnh vực nhạy cảm (chứng khoán; ngân hàng, tài chính; bảo hiểm; bất động sản và quỹ đầu tư) đạt 4.975 tỷ đồng; số vốn cần tiếp tục thoái lớn, lên tới trên 15.600 tỷ đồng.

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, tiến độ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước còn chậm, số vốn nhà nước được cổ phần hóa còn thấp, tỷ lệ vốn nhà nước còn nắm giữ ở các doanh nghiệp đã cổ phần hóa còn cao, kể cả các doanh nghiệp không cần giữ cổ phần chi phối.

Bộ Tài chính cho rằng, nguyên nhân tác động của khủng hoảng tài chính thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước ảnh hưởng đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán.

Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân chủ quan do vướng mắc về cơ chế và nhận thức của một bộ phận cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu ở nhiều doanh nghiệp, chưa hiểu đúng ý nghĩa quan trọng và các lợi ích mang lại của việc tái cơ cấu doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế – xã hội, nên chưa thật sự quan tâm, tập trung triển khai.

Đánh giá thêm về quá trình cổ phần hóa tại hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cho rằng, nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ vẫn cao và chưa thoái tới mức đã được phê duyệt. Do đó, trong thời gian tới, Phó Thủ tướng yêu cầu cần tiếp tục đẩy mạnh công tác cổ phần hoá nhằm nâng cao quản trị của doanh nghiệp Nhà nước.

Phương Dung

 

Các doanh nghiệp của KRET sẽ tích cực tham gia thị trường Việt Nam

Ông Igor Nasenkov, Phó Tổng Giám đốc Thứ nhất của Tổng Công ty Vô tuyến – Điện tử KRET đã cho biết như vậy khi đề cập tới mối quan hệ của công ty với thị trường Việt Nam.

KRET là một công ty tương đối trẻ so với lịch sử lâu dài của ngành công nghiệp Nga. Xin ông cho biết về thời gian và mục đích thành lập công ty?

Có thể nói rằng, KRET đại diện cho phương thức tương tác mới giữa các doanh nghiệp có lịch sử lâu dài mà một vài trong số đó được hình thành từ thời kỳ khởi nguyên của ngành công nghiệp hàng không. Công ty tập hợp những tập quán nghiên cứu và sản xuất trước đây cùng với phương thức hiện đại để quản lý và tổ chức toàn bộ vòng đời sản phẩm – từ phát triển, thử nghiệm, sản xuất quy mô lớn, bảo hành tới thanh lý.

KRET được biết đến với hình thức như hiện nay vào năm 2009. KRET đã tập hợp các doanh nghiệp phát triển và sản xuất hệ thống tác chiến điện tử, tình báo, xác định bạn – thù (IFF), thiết bị đo đạc, thiết bị kết nối điện và dây cáp. Vào năm 2012, công ty đã sáp nhập với các công ty thiết kế và chế tạo hàng không điện tử. KRET được thành lập như là một trong những nỗ lực của Chính phủ nhằm tái cơ cấu nền công nghiệp quốc gia gặp khủng hoảng vào những năm 90.

Trong vòng hơn 6 năm, chúng tôi đã làm sống lại chuỗi sản xuất thời Xô Viết và phát triển các giải pháp tiên tiến trong các ngành quân sự và dân dụng. Hiện tại, các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty trở thành những nhà dẫn đầu toàn cầu trong thiết kế hệ thống và thiết bị tác chiến, cũng như hệ thống IFF. KRET là nhà thiết kế hệ thống radar IF hàng đầu thế giới, Parol, được sử dụng bởi Nga và Cộng đồng các Quốc gia Độc lập CIS.

 

Ông Igor Nasenkov, Phó tổng giám đốc thứ 1 của KRET

Ông Igor Nasenkov, Phó tổng giám đốc thứ 1 của KRET

 

Hiện nay, các sản phẩm của KRET chiếm 55% thị trường hàng không điện tử của Nga. Tổng công ty đã chế tạo các thiết bị hàng không điện tử tinh vi cho các máy bay Nga, bao gồm Su-35S, trực thăng Ka-52, Mi-171A2, Yak-130, II-476 và MS-21, cũng như tàu vũ trụ Soyuz-TMA.

Hệ thống điện tử hàng không tích hợp IMA là các công nghệ đã được sử dụng trên khắp thế giới. Những máy bay Boeing 787 và Airbus 380 mới nhất cũng có những hệ thống này. Xin ông cho biết, tại Nga có hệ thống tương tự như vậy không? Lợi thế của hệ thống đó so với hệ thống hiện thời là gì?

Việc chuyển đổi sang hệ thống điện tử mô-đun xuất phát từ lợi ích kỹ thuật và kinh tế. Một mặt, hệ thống này giúp tăng đáng kể hiệu quả hoạt động, thống nhất tổ chức và nâng cấp thiết bị. Mặt khác, nó giúp giảm chi phí vận hành.

Hệ thống điện tử hàng không tích hợp IMA được áp dụng cho các máy bay quân sự mới của Nga như PAK FA. Trong lĩnh vực dân sự, KRET đang phát triển hệ thống tương hợp cho trực thăng dân sự MS-21, Mi-171, Mi-38, v.v. Đây là một sản phẩm tiên tiến độc nhất vô nhị của Nga. Đặc biệt, phần mềm trong hệ thống điện tử hàng không tích hợp IMA sử dụng cho MS-21 được nội địa hóa tới 90%.

KRET là nhà cung quan trọng nhất cho các lực lượng vũ trang Nga và là một bên tham gia các dự án quốc tế nhưng không có được sự công nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Tại sao vậy?

Nhiều hệ thống vũ khí quốc tế có uy tín và được đánh giá cao có nguồn gốc từ các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty, có thể kể đến máy bay MiG, Su, tàu vũ trụ, tàu chiến và tàu ngầm.

Nhiều hệ thống thuộc về các dòng Krasukha, Rtut-BM và Khibiny đã được biết đến rộng rãi hiện nay và được công nhận trên toàn cầu.

Ông đang đề cập tới các sản phẩm nào?

Từ năm nay, chúng tôi triển khai tích cực các chiến dịch xúc tiến xuất khẩu chuyên sâu hệ thống tác chiến điện tử, bao gồm cả hệ thống mặt đất và trên không.

Các hệ thống mặt đất có khả năng bao phủ toàn bộ khu vực, cản trở các nỗ lực tình báo và ngăn cản việc triển khai các loại vũ khí có độ chính xác cao của các đối thủ, cũng như gián đoạn thông tin liên lạc của đối thủ. Song song với đó, các hệ thống này liên tục thu thập thông tin xác định mục tiêu, phân loại và xác định các mục tiêu đe dọa tiềm tàng, từ đó gây nhiễu sóng các mục tiêu đó để bảo vệ hệ thống và lực lượng của mình.

Hệ thống thông tin tình báo và kiểm soát tác chiến điện tử Moskva-1 là trung khu thần kinh cho các tổ chức quốc phòng công nghệ cao. Nó có thể xâm nhập và tiếp cận điện tử tới 400 km trong vùng không gian của kẻ thù. Mục tiêu được theo dõi ở chế độ thụ động, giúp hệ thống có thể bí mật hoạt động. Một khi mục tiêu được xác định, các thông số của chúng được truyền tới hệ thống tác chiến điện tử, hệ thống quốc phòng và máy bay quân sự. Moskva-1 có khả năng điều khiển hơn 7 hệ thống tác chiến điện tử di động Krasukha. Các hệ thống Krasukha có thể phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả các trạm radar trên không của kẻ thù ở khoảng cách tối đa 300 km, ngăn chặn khả năng bị xác định và tấn công bởi kẻ thù.

Một điểm đáng lưu ý là hệ thống đa dụng Rtut-BM. Thiết bị này giúp bảo vệ nguồn nhân lực và trang thiết bị quân sự tránh bị tấn công bởi tên lửa đường đạn và pháo phản lực trong diện tích lên tới 50 ha. Thêm vào đó, hệ thống còn có khả năng gây nhiễu điện tử hiệu quả, giúp ngăn chặn thông tin liên lạc trên không và dưới mặt đất, cũng như hệ thống radar dò tìm. Có thể nói đây là hệ thống tác chiến điện tử đa dụng.

Đây là các hệ thống hiện đại nhất hiện nay và là trụ cột của hoạt động ngăn chặn lực lượng đối phương tiếp cận lãnh thổ của mình (anti-access hay A2) đồng thời hạn chế các hành động hiệu quả của đối phương trên lãnh thổ một khi chúng vẫn đột phá được vào (area-denial hay AD). Hệ thống này hoàn toàn mang tính chất phòng thủ nhưng có khả năng ngăn chặn và vượt qua các hành động gây hấn của kẻ thù mạnh hơn rất nhiều.

 

Hệ thống rác chiến điện tử Krasukha 4 của Nga

Hệ thống rác chiến điện tử Krasukha 4 của Nga

 

Một sản phẩm xuất khẩu khác của KRET là President-S. Đây là hệ thống phòng thủ trên không được sử dụng để bảo vệ cả máy bay quân sự và máy bay dân sự khỏi tên lửa trên không. Tính năng đặc biệt của hệ thống này là nó có thể chống lại tên lửa thăm dò hồng ngoại và tên lửa thăm dò radar. Sau khi thu thập được thông số về địa điểm phóng và tên lửa, nó phát ra các xung laser được mã hóa tới các đầu dẫn quang học hoặc tác động tới đầu dẫn radar. Những tác động này cản trở sự theo dõi mục tiêu của tên lửa, khiến nó đi trệch quỹ đạo, giúp bảo vệ máy bay và trực thăng.

Ông đã quyết định sẽ cung cấp các sản phẩm này tới những quốc gia nào chưa?

Trong thời gian tới, chúng tôi tiếp tục tiến hành thảo luận và hiện tại chúng tôi cũng có một loạt các thỏa thuận cần tiến hành. Tôi không có thẩm quyền có thể nêu danh các quốc gia cụ thể.

Thông thường, trong lĩnh vực này, những đối tác tiềm năng nhất đến từ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Trung Đông và Mỹ Latinh. Hệ thống phòng thủ trên không President có thị trường rộng lớn hơn. Chúng tôi dự định lắp đặt hệ thống này trên các máy bay hoạt động tại các vùng có rủi ro cao.

KRET và Việt Nam đã từng có tiền lệ hợp tác như vậy chưa?

Các doanh nghiệp của KRET đã tích cực tham gia vào hợp tác công nghệ giữa hai quốc gia. Ví dụ, nhân viên của Tổng công ty từ Trung tâm Thiết kế và Sản xuất thiết bị Ulyanovsk đã tham gia vào giai đoạn vận hành 3 tổ máy điện tại nhà máy thủy điện Nậm Na. Nhà máy này góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển tại khu vực phía Bắc Việt Nam.

Trong tương lai, chúng tôi có kế hoạch tăng cường hợp tác trong cả lĩnh vực dân sự và kỹ thuật quân sự.

 

IGOR NASEKOV là Phó Tổng Giám đốc Thứ 1 của KRET.

Sinh ngày 2/8/1975 tại Naberezhnye Chelny;

Tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Doanh nghiệp từ Đại học Bách khoa Kamsky;

Tốt nghiệp ngành quản lý tài chính của Viện Quản lý (Naberezhnye Chelny);

Hoàn thành các chương trình đào tạo chuyên nghiệp tại các trường Đại học Quốc gia – Cao học Kinh tế; có bằng MBA và DBA (Tiến sĩ quản lý kinh doanh);

Hoàn thành các khóa đào tạo cao học về kế hoạch hóa quân sự tại Học viện Quân sự Nga;

Bắt đầu sự nghiệp của mình tại thị trấn Kogalym vào năm 1997, đứng đầu bộ phận Tiếp thị tại chi nhánh Nhà máy Luyện kim;

Từ 2000-2005, là kỹ sư, quản lý hoạt động của các xưởng sản xuất phụ trợ và sau đó là người đứng đầu bộ phận đấu thầu tại Công ty luyện kim Kamaz

Năm 2005, được bổ nhiệm làm Giám đốc Thương mại tại Nhà máy AVTOPRIBOR. Trong năm 2008, Ông là cố vấn cho Bộ trưởng Bất động sản, Tài nguyên Thiên nhiên và Lâm nghiệp tại khu vực Amur. Trong cùng năm đó, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Phát triển Kinh tế, Công nghiệp, Khí đốt và Năng lượng tại khu vực Amur.

Tổng công ty vô tuyến – điện tử KRET trực thuộc Tập đoàn Công nghệ Quốc gia Nga Rostec

KRET tập hợp 97 doanh nghiệp phát triển và sản xuất các thiết bị vô tuyến điện tử cho cả mục đích quân sự và dân sự.

Các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty được đặt trên khắp nước Nga. KRET hiện đang sản xuất một loạt các sản phẩm như sau:

• Các hệ thống và thiết bị điện tử hàng không;

• Các thiết bị tác chiến điện tử và tình báo

• Trạm radar;

• Hệ thống và thiết bị nhận diện bạn – thù (IFF)

• Thiết bị đo tùy chỉnh (MI) cho các ứng dụng khác nhau;

• Phích cắm, đầu nối điện và dây cáp.

Các sản phẩm KRET chiếm khoảng 40% thị trường hàng không điện tử máy bay quân sự và khoảng 60% thị trường trực thăng quân sự và vận chuyển.

Tổng Công ty phát triển các hệ thống điện tử tinh vi cho máy bay của Nga, bao gồm cả Su-35S, Ka-52, Mi-171A2, Yak-130, Il-476 và Tu-204SM, hầu hết máy bay tiên tiến của Nga, cũng như tàu vũ trụ Soyuz TMA. KRET là nhà cung cho các nhà sản xuất máy bay lớn của Nga, như Tập đoàn Đóng Tàu bay Thống nhất Nga và Tập đoàn Trực thăng Nga.

Hiện nay, các doanh nghiệp của Tổng Công ty đứng đầu thế giới và dẫn đầu thị trường nội địa trong việc thiết kế và sản xuất các hệ thống tác chiến điện tử và các hệ thống IFF. KRET là thiết kế của một trong những hệ thống radar IFF tốt nhất thế giới, Parol (Password), được Nga và các Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS) sử dụng.

Tập đoàn Công nghệ Quốc gia Nga Rostec được thành lập để phát triển, chế tạo và thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp dân dụng và quân sự công nghệ cao. Tập đoàn được cấu thành từ 663 công ty con, trong đó 9 công ty là phức hợp công nghiệp-quân sự, và 6 công ty thuộc lĩnh vực dân sự. Danh mục công ty của Rostec bao gồm những tên tuổi nổi tiếng như AvtoVAZ, KAMAZ, Công ty Máy bay Trực thăng Nga, VSMPO-AVISMA, vv. Rostec hiện diện tại 60 vùng lãnh thổ tại Nga xuất khẩu sang 70 quốc gia.

 

Đà Nẵng: Đề nghị công an điều tra công ty “cấm cửa” khách Việt

Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Công ty TNHH thương mại và du lịch Tuệ Dân có hai thành viên góp vốn là chị Nguyễn Hoàng Phú Yên (SN 1990, trú huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) và chị Trần Thị Yến Loan (SN 1992, trú xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam). Công ty có vốn điều lệ 10 tỉ đồng, trong đó chị Yên đóng góp 5,5 tỉ đồng và chị Loan đóng góp 4,5 tỉ đồng.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, gia đình chị Loan thuộc diện khó khăn, bố bị tàn tật nên chỉ làm được những việc nhẹ nhàng, mẹ buôn bán nhỏ ở chợ. Mấy chị em Loan ăn học đều phải vay tiền của ngân hàng chính sách. Bố Loan cũng cho biết, Loan làm thuê cho một công ty Trung Quốc, lương tháng 5 triệu đồng

Theo cơ quan công an, trên địa phường Khuê Trung có 15 người Trung Quốc đăng ký tạm trú có liên quan đến công ty TNHH thương mại và Du lịch Tuệ Dân. Những người này khai đi công tác, giám sát hàng hóa tại công ty TNHH thương mại và Du lịch Tuệ Dân.

Sở Kế hoạch và Đầu tư đề nghị công an điều tra công ty “cấm cửa” khách Việt
Sở Kế hoạch và Đầu tư đề nghị công an điều tra công ty “cấm cửa” khách Việt

Bà Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Trưởng phòng Đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng) cho biết, hồ sơ kê khai của Công ty TNHH thương mại và du lịch Tuệ Dân không có vốn đầu tư của nước ngoài. Nếu cơ quan công an xác định thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty là không chính xác, không trung thực và có dấu hiệu giả mạo thì Phòng Đăng ký kinh doanh sẽ lập tức ra thông báo vi phạm và rút giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của đơn vị này.

Ngoài công ty trên, Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng cũng đề nghị Công an TP Đà Nẵng điều tra, xác minh 3 công ty có liên quan đến Công ty TNHH thương mại và du lịch Tuệ Dân.

Công ty thứ nhất là Công ty TNHH Sản xuất nệm H.A Cao su Việt Nam. Theo Phòng Đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng) cho biết, chưa hề cấp phép đối với công ty này, kể cả chi nhánh hay văn phòng đại diện. Ngoài ra, công ty này cũng chưa từng được bất cứ nơi nào ở Việt Nam cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thế nhưng, trên bao bì của Công ty TNHH thương mại và du lịch Tuệ Dân để đựng hàng cho khách lại có tên của công ty này.

Công ty thứ 2 là công ty TNHH Du lịch Kỳ nghỉ tuyệt vời (phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng). Công ty này thường xuyên đưa khách Trung Quốc đến showroom H.A Cao su thiên nhiên.

Công ty thứ 3 là Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ AOTES, vốn điều lệ 2 tỉ đồng, với hai thành viên Lê Thị Thanh Thủy (thường trú phường Điện Nam Đông, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam) và Nguyễn Thị Thúy Vi (trú ở khối 7, phường An Mỹ, TP Tam Kỳ, Quảng Nam). Trong đó, Nguyễn Thị Thúy Vi (SN 1991) làm Giám đốc với tỉ lệ góp vốn 51%. Công ty AOTES đăng ký trụ sở cũng ở số 148 Xuân Thủy. Tuy nhiên tại địa chỉ này không có bảng tên, biển hiệu của Công ty AOTES. Trong khi đó có thông tin Công ty này đang xây một showroom tương tự với quy mô còn lớn hơn ở ngã tư Nguyễn Hữu Thọ – Trịnh Đình Thảo, gần với showroom H.A Cao su thiên nhiên và gắn rất nhiều chữ Trung Quốc.

Khánh Hồng

 

Chỉ 29% doanh nghiệp liêm chính trong kinh doanh

Ngày 29/12, VCCI đã “Công bố báo cáo khảo sát hiện trạng thực hành liêm chính trong kinh doanh và nhu cầu hỗ trợ xây dựng năng lực của doanh nghiệp”. Theo đó, trong hơn 180 doanh nghiệp (DN) tham gia khảo sát thì chỉ có 29% DN cam kết và thực hiện các vấn đề liêm chính, số còn lại dù hiểu biết rõ nhưng không thực hiện hoặc thực hiện rất thấp.

Lót tay, chi phí phi chính thức trong kinh doanh tại Việt Nam vẫn khá phổ biến.

Lót tay, chi phí phi chính thức trong kinh doanh tại Việt Nam vẫn khá phổ biến.

Hiểu nhưng không thực hiện

Theo kết quả khảo sát của VCCI, có hơn 92 – 93% DN tại Việt Nam hiểu về khái niệm liêm chính và minh bạch trong kinh doanh (kinh doanh đúng pháp luật, không hối lộ, không vi phạm pháp luật trong kinh doanh…), trong đó có hơn 55% DN cho rằng liêm chính kinh doanh cần phải gắn liền với các nguyên tắc, chuẩn mực về đạo đức và quy phạm pháp luật tạo ra rào cản đối với nạn tham nhũng, hối lộ.

Tuy nhiên, chỉ có 29% DN cam kết và thực hiện các biện pháp liêm chính trong kinh doanh như: kiểm soát nội bộ, kiểm soát chi tiêu, thực hiện cơ chế báo cáo minh bạch với cơ quan thuế, hải quan…

Theo khảo sát của VCCI, ngành da giầy, ngân hàng, chế biến lương thực thực phẩm có tần suất gặp phải cản trở từ các cơ quan nhà nước nhiều nhất. DN thuộc các lĩnh vực này dù áp dụng liêm chính trong kinh doanh nội bộ nhưng luôn gặp phải những phiền hà, nhũng nhiễu từ các cơ quan nhà nước. Các DN đều hiểu được liêm chính nhưng tỷ lệ thực hiện còn quá ít, trong khi đó, chính cơ quan nhà nước đang là tác nhân gây trở ngại cho DN thực hiện liêm chính trong kinh doanh.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Tổng Thư ký VCCI cho rằng, liêm chính trong kinh doanh được xem là chuẩn mực đạo đức doanh nghiệp và đây đang là chuẩn mực của quốc gia và quốc tế. Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng, chúng ta cần thực hiện nghiêm túc vấn đề này. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhiều DN vẫn chưa coi trọng hoặc áp dụng cơ chế kiểm soát hối lộ, vi phạm pháp luật kinh doanh… Đây là điều hết sức lo ngại để xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, xây dựng thương hiệu DN, thương hiệu quốc gia.

Làm 1 đồng phải “bôi trơn” gần 1 đồng

Theo chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan, vấn đề liêm chính tại DN đang khó bởi vì hối lộ, kinh doanh gian dối xuất phát nhiều từ bộ máy quản lý. Theo báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới, DN Việt Nam làm được 1 đồng thì phải chi gần 1 đồng cho bôi trơn chính sách. Chính phí và thuế là hai lĩnh vực chiếm tới 40,8% trong số tổng lợi nhuận DN phải chi trả, đó là chưa nói đến hàng loạt các chính sách gia nhập thị trường khác nữa.

“Tiền bôi trơn của DN Việt Nam chiếm tới 0,72 – 1,02% lợi nhuận của họ. Nghĩa là DN làm ra 1 đồng lợi nhuận thì họ phải đóng ít nhất 0,72 đồng, thậm chí là cao hơn cả lợi nhuận tới 0,2 đồng cho phí tham nhũng, bôi trơn. Như vậy, DN làm sao có thể phát triển được, bởi việc này khó có thể khởi động tinh thần kinh doanh của người Việt”, Chuyên gia Phạm Chi Lan, nói.

“Ban đầu tôi và nhiều người quả thực không tin về những chi phí lót tay ghê gớm như vậy. Bởi nếu như thế, nó thực sự là rào cản rất lớn của DN, DN không thể sống được chứ chưa nói đến lợi nhuận. Tuy nhiên, thực chất nó là điều tra chuẩn xác của Ngân hàng Thế giới, cũng được Bộ Tài chính đưa ra trong hội thảo gần đây”, bà Lan cho hay.

Bà Lan cho rằng, chính vì lý do rất ít DN Việt thực hiện các cơ chế liêm chính trong kinh doanh nên còn có những điểm “mù” trong bản cân đối tài sản, kế toán của DN… Đây là nguyên nhân nhiều DN Việt khó lọt vào chuỗi sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia và chuỗi sản xuất quốc tế.

Theo thống kê, chỉ có 36% DN Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất (bao gồm cả xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp), so với 60% ở Malaysia và Thái Lan. Chỉ có 21% DN Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu so với 30% Thái Lan, 46% của Malaysia. Điều này khiến DN Việt Nam ít có khả năng được hưởng lợi từ hiệu ứng lan tỏa của FDI qua chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất.

Nguyễn Tuyền

 

Hậu Giang: Khánh thành nhà máy bia có công suất trăm triệu lít/năm

Các đại biểu đến dự lễ và tham quan nhà máy

Đến dự lễ có Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh; Bí thư tỉnh Hậu Giang Trần Công Chánh cùng đại biểu Lãnh đạo các Bộ, ngành và địa phương khác.

Nhà máy bia Masan Brewery HG có diện tích gần 15ha được đầu tư máy móc và công nghệ hiện đại từ các nước tiên tiến. Nhà máy có công suất 100 triệu lít/năm, và trong tương lai sẽ mở rộng lên 150 triệu lít/năm.

Ông Nguyễn Đăng Quang, Chủ tịch HĐQT Masan Group cho biết: “Việc đầu tư Dự án nhà máy bia Masan Brewery tại tỉnh Hậu Giang hứa hẹn trong tương lai gần sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho cộng đồng tỉnh Hậu Giang và vùng lân cận”.

Theo đó, khi nhà máy hoạt động hết công suất sẽ đóng góp ngân sách cho tỉnh hàng chục nghìn tỉ đồng qua việc đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập cá nhân… Đồng thời, việc đầu tư nhà máy bia có quy mô, công suất lớn là cột mốc quan trọng trong nỗ lực hình thành một nhãn hiệu bia quốc gia của Việt Nam để phục vụ người tiêu dùng trong nước.

 

Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, phát biểu tại lễ khánh thành nhà máy bia Masan Hậu Giang

Phát biểu tại lễ khánh thành, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết: “Xây dựng nhà máy bia Masan Brewery HG là phù hợp với quy hoạch phát triển ngành công nghiệp rượu, bia, nước giải khát. Dự án được đầu tư ở vùng có tiềm năng về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế lớn nhất cả nước, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhà máy bia này là xây dựng thương hiệu tầm cỡ đủ lớn để bước ra, sánh ngang với các công ty, tập đoàn lớn trong khu vực và thế giới”.

“Tôi mong lãnh đạo địa phương, tập đoàn sẽ giữ đúng lời hứa xây dựng thương hiệu “bia thật, bạn thật, quan tâm thật” để nó là niềm tự hào của Hậu Giang, niềm tự hào của miền Tây Nam bộ chúng ta”, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh.

Phạm Tâm

 

Hơn 80.000 doanh nghiệp “đóng cửa” năm 2015

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong năm 2015, cả nước có 94.754 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6% về số doanh nghiệp và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so với năm 2014.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động vẫn tăng mạnh trong năm 2015
Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động vẫn tăng mạnh trong năm 2015

Bên cạnh đó, có 851 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn trong năm 2015. Như vậy, tổng cộng đã có 1452,5 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm nay.

Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp năm 2015 đạt 6,3 tỷ đồng, tăng 9,9% so với năm trước. Các doanh nghiệp thành lập mới này đã tạo công ăn việc làm mới cho gần 1,5 triệu người, tăng 34,9% so với năm 2014.

Cũng trong năm nay, cả nước có 21.506 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 39,5% so với năm trước.

Theo đánh giá của cơ quan thống kê, điều này cho thấy hiệu quả các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và Bộ, ngành, địa phương trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hỗ trợ khu vực doanh nghiệp phát triển.

Đáng chú ý là trong năm nay, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh đã giảm nhẹ 0,4% so với năm 2014, với là 9.467 doanh nghiệp, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (chiếm 93,8%).

Tuy nhiên, số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong năm vẫn tăng 22,4% lên 71.391 doanh nghiệp, bao gồm 15.649 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 55.742 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp những tháng cuối năm khả quan hơn những tháng đầu năm. Trong đó, có 42,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV khả quan hơn quý III; 19,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,2% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.

Bích Diệp