“Thủ tướng đột phá, doanh nghiệp vẫn rụt rè”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Sáng 29/4, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp năm 2016 với chủ đề: “Doanh nghiệp Việt Nam – Động lực phát triển kinh tế của đất nước”. Tại hội nghị lần này, Thủ tướng cùng lãnh đạo các bộ ngành đã đưa ra nhiều cam kết nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển thuận lợi cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh.

Kỳ vọng mang lại làn gió mới

Phát biểu sau khi kết thúc Hội nghị, chuyên gia kinh tế – TS Lê Đăng Doanh cho rằng, những điều mà Thủ tướng cam kết tại hội nghị lần này có nhiều tiến bộ, đột phá vượt bậc bởi đây là lần đầu tiên một hội nghị như vậy diễn ra. Đặc biệt, ngay sau khi họp, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng cùng các Bộ trưởng đã họp ngay và có cam kết cụ thể.

“Tổng thể giải pháp đã là hiện tượng mới và là đột phá. Trong đó, nổi bật nhất có thể kể tới như cam kết không hình sự hoá các quan hệ kinh tế, cam kết từ 1/7 chỉ luật với nghị định có hiệu lực còn thông tư bãi bỏ hết… Đây là lần đầu tiên một Thủ tướng có quyết định mạnh mẽ như vậy”, ông nhận xét.

Đồng quan điểm, TS Cao Sĩ Kiêm – nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa – cũng cho rằng, đột phá lớn nhất có thể thấy là việc lần đầu tiên Thủ tướng vừa lên nhậm chức đã tổ chức một hội nghị lớn để lắng nghe tâm tư doanh nghiệp. “Đây có thể xem là động lực phát triển mạnh nhất, quyết định nhất trong thời kì hội nhập như hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh doanh nghiệp còn đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc”, chuyên gia kinh tế này bình luận.

“Riêng việc một hội nghị có Thủ tướng đứng đầu, cùng 4 Phó Thủ tướng tập trung lắng nghe doanh nghiệp phát biểu, chỉ đạo trực tiếp của các Bộ ngành đã là đột phá lớn, tạo niềm tin ban đầu, hứng khởi ban đầu cho cộng đồng doanh nghiệp. Nội dung đưa ra cũng tương đối cụ thể, sát với khó khăn hiện nay của doanh nghiệp”, ông Kiêm nói.

Ông Kiêm cho rằng: “Đáng chú ý nhất là cam kết sẽ không hình sự hoá hoạt động kinh tế, kỳ vọng sẽ tạo nhiều động lực cho doanh nghiệp. Hiện nay, doanh nghiệp rất sợ sự làm ăn tắc trách của cơ quan công quyền, luôn lo sợ phải đề phòng tứ phía. Câu nói này trong bối cảnh hiện nay khiến cho cộng đồng doanh nghiệp được tiếp thêm hi vọng. Thủ tướng cam kết như vậy, chắc chắn sẽ có chỉ đạo thực hiện như vậy”.

Ở một góc nhìn khác, Luật sư Trương Thanh Đức nói: “Nhận định chung là khá thất vọng vì ý kiến doanh nghiệp đưa ra chung chung, vụn vặt chứ chưa nói được ra hết những bế tắc thực sự để giải quyết. Trong khi Thủ tướng gợi ý như thế, mạnh dạn và đổi mới như thế thì ý kiến của doanh nghiệp vẫn chạy loanh quanh quá”.

Theo ông Đức, vấn đề nhức nhối nhất hiện nay đối với cộng đồng doanh nghiệp có thể kể tới như các thủ tục cấp phép đầu tư, xây dựng, những tiêu cực của cơ quan thuế, hay thậm chí là các quy định không thoả đáng trong các luật do Chính phủ ban hành.

“Cam kết Thủ tướng đưa ra cho thấy sự đột phá, mạnh dạn, nhiều ý tưởng mới khi khẳng định “đổi mới phải chấp nhận vứt đi cái cũ” “không hình sự hoá quan hệ kinh tế”… Với những chỉ đạo mới này hi vọng sẽ là có làn gió mới cho cộng đồng doanh nghiệp”, ông Đức nói.

Đòi hỏi phải có sự thay đổi về tư duy

Về triển khai các cam kết, ông Trương Thanh Đức cho rằng: “Quan trọng nhất vẫn là phải cải cách thể chế, luật lệ và thậm chí nếu cần phải tính sửa hiến pháp. Chúng ta phải thay đổi một cách cơ bản, táo bạo, cần sửa ngay một số luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bảo hiểm… Trong việc xây dựng các quy định, chính sách, phải tính tới việc không những chỉ lấy ý kiến doanh nghiệp mà còn phải thành lập một hội đồng tham gia góp ý”

Còn theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, các cam kết đưa ra chắc chắn sẽ có khó khăn lớn khi đi vào hoạt động, do đó, đòi hỏi phải có sự thay đổi về tư duy, công khai minh bạch trong quản lý, điều hành của lãnh đạo các bộ ngành, địa phương.

“Thủ tướng nắm vững và nói thẳng tình hình là điểm đột phá, hi vọng sẽ mang lại thay đổi lớn. Tôi cũng đánh giá cao những cam kết đưa ra. Tuy nhiên, sẽ có thay đổi diễn ra nhanh chóng như vận dụng công nghệ thông tin, nhưng có những cái cần thời gian”, ông Doanh nói.

Trong khi đó, ông Cao Sĩ Kiêm cũng cho rằng, giống như rất nhiều những cuộc đối thoại hay hội nghị được khởi xướng trước đó, sau tất cả cần có sự phân loại rõ các khó khăn, vướng mắc và rút được các nút quan trọng để triển khai.

“Tôi cho rằng, hội nghị đã khơi lên, nghe được tâm tư của doanh nghiệp thì tốt rồi. Sau đó, Chính phủ phải trực tiếp đưa ra các chính sách điều hành, và các địa phương phải có giải pháp triển khai cụ thể thì mới có kết quả tốt”, ông nói thêm.

Trao đổi về nút thắt quan trọng nhất đối với doanh nghiệp, vị chuyên gia có nhiều năm công tác trong ngành ngân hàng cho rằng, đó là vốn dành cho doanh nghiệp. Hiện doanh nghiệp đang thiếu nguồn vốn dài hạn, 90% nhìn vào ngân hàng mà ngân hàng đang khó khăn và nếu không có vốn dài hạn sẽ làm đổ sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, nợ công tăng nhanh, thiếu nhận thức về hội nhập hay năng suất lao động còn thấp cũng là những vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp.

Phương Dung

Advertisements

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: “Nhiều việc lớn nhưng chúng ta đủ bản lĩnh để xử lý”

 Thủ tướng: Chính phủ mới 20 ngày những đã gặp nhiều việc lớn, thử thách

Thủ tướng: “Chính phủ mới 20 ngày những đã gặp nhiều việc lớn, thử thách”

Tại cuộc họp, có 16 ý kiến của các thành viên Chính phủ đưa ra các giải pháp cụ thể đối với các kiến nghị của doanh nghiệp, tập trung vào các nhóm vấn đề lớn là đăng ký, gia nhập thị trường; tiếp cận vốn, tín dụng; đất đai, xây dựng, môi trường; về thuế, hải quan; chi phí kinh doanh; công tác thanh tra, kiểm tra; quy định về giao dịch bảo đảm; thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Các bộ, ngành khẳng định cam kết, khẩn trương giải quyết, trả lời các kiến nghị của doanh nghiệp với tinh thần phục vụ, tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh; sẽ có các chương trình hành động cụ thể để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; đồng thời mong muốn bản thân các doanh nghiệp phải nỗ lực vươn lên, đề cao trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh.

Về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ, các thành viên Chính phủ nhất trí về tính cần thiết của Nghị quyết với mục tiêu, đến năm 2020, cả nước có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; cho rằng Nghị quyết cần toát lên quyết tâm của Chính phủ công khai, minh bạch, tạo cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý tốt nhất tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; đưa ra các giải pháp cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp, chú trọng đến những lĩnh vực, ngành nghề bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hội nhập khi nước ta tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), TPP để có thể “thắng trên sân nhà”; hỗ trợ tăng số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Phát biểu kết luận Hội nghị, Thủ tướng nêu rõ: Chính phủ vừa được kiện toàn mới 20 ngày đã gặp nhiều việc lớn thử thách bản lĩnh của Chính phủ, của Thủ tướng, “nhưng tôi nghĩ chúng ta đủ bản lĩnh, đủ khả năng để xử lý”.

Theo Thủ tướng, vấn đề chính là các bộ trưởng, các chủ tịch tỉnh, thành phố phải thay đổi tư duy, thay đổi cách làm, tháo gỡ khó khăn vướng mắc để đạt các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đã đề ra.

“Chúng ta không còn dư địa tăng trưởng nhiều với cách làm cũ. Những việc như thế này chúng ta không chờ kỳ họp Quốc hội mà chủ động giải quyết. Mọi cấp mọi ngành phải tìm mọi cách, năng động, sáng tạo, điều hành quyết liệt theo chức năng nhiệm vụ”, ông nêu quan điểm chỉ đao.

Thủ tướng nhấn mạnh, “năng lực của cả hệ thống trong thực thi công vụ, trong đổi mới sáng tạo là rất quan trọng, chứ không chỉ là người đứng đầu hệ thống”. Do đó, Người đứng đầu Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh thành phố phải chủ động, chứ không thể chỉ nói mạnh trong hội trường mà không có giải pháp tháo gỡ trong thực tế. Những bức bách, gò bó mà doanh nghiệp gặp phải là rất nhiều.

 Ngay sau phiên họp với các doanh nghiệp, Thủ tướng đã triệu tập phiên họp với các bộ, ngành để giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp đặt ra.

Ngay sau phiên họp với các doanh nghiệp, Thủ tướng đã triệu tập phiên họp với các bộ, ngành để giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp đặt ra.

Thủ tướng cho rằng, qua hội nghị hôm nay có hai vấn đề lớn. Thứ nhất, với các kiến nghị của doanh nghiệp thì đề nghị VCCI chuyển toàn bộ cho các Bộ trưởng để trên tinh thần đổi mới, quyết liệt, trả lời cho các doanh nghiệp, vấn đề nào vượt thẩm quyền thì báo cáo Thủ tướng. Phải tôn trọng doanh nghiệp, phải trả lời đến nơi đến chốn, không thể tình trạng nước đổ lá khoai, gió vào nhà trống, Thủ tướng lưu ý.

Thứ hai, thảo luận về dự thảo Nghị quyết hỗ trợ doanh nghiệp, Thủ tướng hoan nghênh Văn phòng Chính phủ trong thời gian rất cấp bách đã dự thảo những vấn đề lớn để thảo luận. Các thành viên Chính phủ đã đóng góp nhiều ý kiến hay về phương pháp, những nội dung lớn.

Về một số chính sách liên quan đến việc sử dụng ngân sách thì phải trả lời doanh nghiệp sớm, nhưng phải phù hợp với khả năng của ngân sách, và cần đẩy mạnh xã hội hóa mạnh mẽ hơn nữa.

Thứ hai, vấn đề nào thuộc quyền của bộ, của Chính phủ phân cấp được thì phân cấp mạnh mẽ cho địa phương, tránh tình trạng “chạy lên chạy xuống”. Phân cấp, giao quyền để Chính phủ làm đúng chức năng là Chính phủ kiến tạo phát triển, Chính phủ làm thể chế, Chính phủ thanh tra, kiểm tra việc thực thi chủ trương chính sách.

Thủ tướng yêu cầu, quan tâm xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn để phát triển đồng đều, tạo cuộc cách mạng trong xây dựng nông thôn mới; rà soát lại nguồn lực, danh mục và cách triển khai thế nào để sử dụng có hiệu quả các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp.

Thủ tướng cũng mong muốn các doanh nghiệp nâng cao trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh, tinh thần nỗ lực, không chỉ dựa vào nhà nước.

Thủ tướng giao cho Văn phòng Chính phủ tiếp thu các ý kiến góp ý, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi đưa ra lấy ý kiến phiên họp Chính phủ tháng 4.

Mạnh Quân

Central Group chính thức mua lại Big C Việt Nam với giá hơn 1 tỷ USD

Theo báo cáo mới nhận được từ tập đoàn Central Group, họ đã hoàn tất giao dịch mua lại hệ thống siêu thị Big C từ tập đoàn Casino của Pháp với giá 920 triệu euro (tương đương 1,05 tỷ USD). Việc bán Big C cho Central Group cũng nằm trong một phần kế hoạch của chuỗi bán lẻ thực phẩm Pháp nhằm cắt giảm bớt các khoản nợ đang ngày một tăng cao.

Được biết Central Group đã tham gia đấu thầu nhằm mua lại Big C kể từ đầu tháng 3, và điều này hoàn toàn nằm trong kế hoạch chiến lược của tập đoàn nhằm mở rộng mạng lưới phát triển trong khu vực ASEAN.

Central Group là một trong những tập đoàn mẹ lớn nhất tại Thái Lan, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, chuỗi cửa hàng bán lẻ, khách sạn và nhà hàng. Được biết tập đoàn này đã liên tục bơm vốn đầu tư đều đặn trong suốt 18 năm nhằm phát triển công ty con Big C tại Việt Nam từ những ngày đầu tiên. Giờ đây, Big C đã xây dựng một mạng lưới gồm 43 cửa hàng và 30 khu trung tâm mua sắm trải dài từ Nam ra Bắc và đạt doanh thu chưa thuế 586 triệu euro (xấp xỉ 14,7 nghìn tỷ VNĐ) trong năm 2015.

Lý do chính khiến Central Group nhắm đến Big C chứ không phải một hệ thống siêu thị nào khác, đó là vì Big C Việt Nam đã xây dựng được một mối quan hệ tốt không chỉ giữa các nhà cung cấp và các khách hàng, mà còn bao gồm cả nhân viên, chính quyền địa phương và cả cộng đồng trong và ngoài nước. Điều này giúp họ dễ dàng hơn trong việc phát triển và mở rộng thêm nữa mạng lưới.

Từ đầu năm 2015, Central Group cũng đã đi vào hợp tác chiến lược với nhà bán lẻ điện máy Nguyễn Kim với những cam kết, định hướng rõ ràng trong việc góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam.

Central Group hiện có hơn 6600 nhân viên tại Việt Nam, làm việc tại 100 cửa hàng với các mô hình bán lẻ khác nhau bao gồm 4 trung tâm thương mại, 27 cửa hàng thể thao, 30 cửa hàng thời trang, 1 khách sạn; 21 trung tâm bán lẻ điện máy, 1 kênh thương mại điện tử, 13 siêu thị Lan Chi.

Nguyễn Nguyễn

Số phận các đại gia ngân hàng trong đại án bầu Kiên

Sếp cũ ACB trở lại kinh doanh

Hơn 3 năm kể từ khi vụ án bầu Kiên xảy ra với sự kiện ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt chiều tối ngày 20/8/2012, sếp cũ của Ngân hàng ACB và Eximbank Phạm Trung Cang – một bị cáo trong vụ án – đã mãn hạn tù và trở lại với công việc kinh doanh.

ĐHCĐ thường niên năm 2016 của CTCP Nhựa Tân Đại Hưng (TPC) diễn ra sáng 27/4 đã thông qua quyết định để ông Phạm Trung Cang trở lại HĐQT công ty sau hơn 3 năm vắng bóng.

Trước đó, ông Cang (62 tuổi) từng là Chủ tịch HĐQT CTCP Nhựa Tân Đại Hưng, thành viên sáng lập, nguyên Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và nguyên Phó Chủ tịch Eximbank.

 Ông Phạm Trung Cang đã tái xuất sau khi mãn hạn tù

Ông Phạm Trung Cang đã tái xuất sau khi mãn hạn tù

Như vậy, ông Cang đã thi hành xong bản án 3 năm tù về hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Trong bản án phúc thẩm tháng 4/2014, ông Huỳnh Quang Tuấn, nguyên thành viên HĐQT ngân hàng ACB lĩnh án 2 năm tù. Một người cũng sắp thụ án xong là ông Trịnh Kim Quang (62 tuổi), với bản án 4 năm tù.

Trong nhóm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vụ án bầu Kiên, bị cáo Nguyễn Thị Hải Yến (47 tuổi, nguyên kế toán trưởng Công ty cổ phần đầu tư ACB Hà Nội) bị tuyên 5 năm tù; bị cáo Trần Ngọc Thanh (nguyên giám đốc Công ty cổ phần đầu tư ACB Hà Nội) 5 năm 6 tháng tù.

Còn trong nhóm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, ông Lý Xuân Hải (nguyên TGĐ ACB) chịu án 8 năm tù. Ông Nguyễn Đức Kiên (nguyên chủ tịch hội đồng đầu tư ACB, nguyên phó chủ tịch HĐQT ACB, nguyên phó chủ tịch hội đồng sáng lập ACB) chịu hình phạt 30 năm tù.

Ngoài các hình phạt tù, ông Nguyễn Đức Kiên chịu hình phạt bổ sung: phạt số tiền trốn thuế 75 tỷ đồng để sung công quỹ nhà nước. Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: phạt 100 triệu đồng sung công quỹ nhà nước. Các bị cáo trong nhóm tội cố ý làm trái còn bị cấm đảm nhiệm các chức vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng 5 năm sau khi mãn hạn tù.

Trong một vụ án có liên quan, vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, bị cáo Như bị tuyên phúc thẩm tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Huyền Như và đồng bọn là người dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt gần 4 ngàn tỷ đồng của các NH, tổ chức, cá nhân. Trong vụ án, Ngân hàng ACB của bầu Kiên đã bị Huyền Như chiếm đoạt 718 tỷ đồng.

Ngàn tỷ khó thu

Theo cáo trạng vụ án bầu Kiên, ông Nguyễn Đức Kiên khi đó là phó chủ tịch ACB không chấp nhận phương án giảm lãi suất huy động tiền gửi trong bối cảnh dư thừa tiền tiết kiệm mà không cho vay, đầu tư được.

Nguyên TGĐ ACB Lý Xuân Hải đề xuất phương án ủy thác cho nhân viên mang tiền của ACB đi gửi vào NH để nhận lãi suất tiền gửi và hưởng thêm hoa hồng, khuyến mại của các ngân hàng khác và được ông Kiên ủng hộ, cũng như sự thống nhất của ông Trần Xuân Giá, Trịnh Kim Quang, Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ.

vụ án bầu Kiên, Trần Xuân Giá, Trịnh Kim Quang, Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ, Nguyễn Đức Kiên, Lý Xuân Hải, ngân hàng ACB

 Vụ án bầu Kiên là một trong 10 đại án kinh tế.

Vụ án bầu Kiên là một trong 10 đại án kinh tế.

Vụ án đã qua đi, có bị cáo đã mãn hạn tù và trở lại công việc kinh doanh. Tuy nhiên, hậu quả về tài chính thì vẫn còn đó. ACB vẫn đang trả giá đắt cho sai lầm quá khứ.

Trong gần 4 năm qua, ACB vẫn chưa thu hồi được hàng ngàn tỷ đồng nợ vay từ 6 DN liên quan tới bầu Kiên và tiền gửi tại 3 ngân hàng, trong đó có 2 ngân hàng đã bị mua lại với giá 0 đồng là: GPBank và VNCB.

Theo báo cáo tài chính 2015, tính tới cuối 2015, ACB còn khoản tiền gửi các TCTD khác gần 6 ngàn tỷ đồng; các khoản phải thu gần 7 ngàn tỷ đồng,… Đây cũng là điều được ông Đỗ Minh Toàn, TGĐ ACB thừa nhận tại ĐHCĐ hôm 8/4 vừa qua. Hiện tại, theo lãnh đạo ACB, ngân hàng này vẫn đang tìm phương án xử lý thu hồi nợ.

Trước đó, theo cáo trạng của Viện Kiểm sát vụ án bầu Kiên, từ giữa 2007 đến tháng 8/2013, thông qua 6 DN, bầu Kiên đã kinh doanh trái phép vàng. Các giao dịch vàng trị giá gần 12 ngàn tỷ đồng và các giao dịch mua bán cổ phần trị giá 9.700 tỷ đồng.

Ba kỳ ĐHCĐ đã qua đi, các cổ đông của ACB vẫn rất lo ngại về khả năng thu hồi các khoản tiền gửi, nợ vay. Những khoản trích lập dự phòng đang bào mòn lợi nhuận của một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam này.

Theo M.Hà
VietnamNet

Agribank đồng hành cùng doanh nghiệp

Tháo gỡ khó khăn cùng doanh nghiệp

Thành công quan trọng của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tín dụng đó là tiếp tục hướng dòng vốn vay của các tổ chức tín dụng đến các lĩnh vực ưu tiên cần khuyến khích theo các Nghị quyết của Chính phủ, góp phần hỗ trợ tăng trưởng bền vững nền kinh tế và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Góp phần vào thành công chung này của NHNN có sự đồng hành tích cực của Agribank.

Trong những năm qua, Agribank cùng NHNN và ngành Ngân hàng tháo gỡ khó khăn, đổi mới quy trình, thủ tục cho vay vốn tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn, đồng thời mở rộng mạng lưới tại các vùng sâu, vùng xa, các địa bàn nông nghiệp, nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện nghiêm túc quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thấp hơn lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất thông thường khác, cũng như thực hiện các giải pháp về đảm bảo nguồn vốn, giảm lãi suất, cơ cấu thời hạn trả nợ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính để tăng khả năng tiếp cận vốn của người dân, doanh nghiệp tại khu vực nông thôn theo hướng tiết giảm tối đa thủ tục.

Chính sách tín dụng linh hoạt, hiệu quả, hướng tới tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp được đánh giá là thành công của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua.Trước đây, để hãm lại đà tăng của nợ xấu cũng như góp phần tháo gỡ khó khăn cho các DN trong việc tiếp cận tín dụng khi nền kinh tế rơi vào suy giảm, NHNN đã ban hành Quyết định 780/QĐ-NHNN cho phép các TCTD được giữ nguyên nhóm nợ đối với các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ nếu DN có triển vọng phục hồi sản xuất. Nhận thức sâu sắc tầm ảnh hưởng quan trọng của chính sách này, Agribank tiên phong nhập cuộc hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trên cả nước.

Nhờ kịp thời được Agribank cơ cấu lại thời hạn trả nợ nguồn vốn trung và dài hạn, được vay vốn lưu động mà Công ty CP Gạch gói Đất Việt đã hồi sinh sau những tháng ngày khó khăn, sản xuất cầm chừng, tưởng chừng như phá sản. Ông Lương Quang Phú, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Gạch ngói Đất Việt cho biết: Từ tháng 6/2014, công ty được Agribank cơ cấu lại thời hạn trả nợ gốc và lãi vốn trung và dài hạn thêm 5 năm (từ 20 năm sang 25 năm ) giúp công ty giảm dần áp lực tài chính, từ chỗ mỗi tháng phải trả gốc và lãi 10 – 12 tỷ đồng/tháng, nay xuống 6 – 8 tỷ đồng/ tháng. Đặc biệt, sau đó công ty được vay 25 tỷ đồng vốn lưu động, giúp doanh nghiệp có vốn đầu tư sản xuất.

Ông Phú cho biết thêm, năm 2011, Công ty vay Agribank 128 tỷ đồng để xây dựng nhà máy, thế nhưng đúng thời điểm này nền kinh tế thế giới và trong nước khó khăn, thị trường bất động sản trầm lắng, công ty lại không có tài sản thế chấp để tiếp tục vay vốn lưu động phục vụ sản xuất, doanh nghiệp sản xuất thua lỗ, có nguy cơ không trả được nợ. Có thời điểm 6 tháng liền, ban lãnh đạo, cán bộ hành chính chậm trả lương.Nhưng đến nay, công ty đã trả gốc vay đến năm 2017, vượt trước thời hạn 2 năm. Có được như vậy, là do các khoản nợ của công ty đã được Agribank tái cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Cũng như Công ty CP Gạch ngói Đất Việt, nhiều doanh nghiệp trên cả nước đã thoát khỏi khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh nhờ hưởng lợi từ các chương trình cho vay ưu đãi lãi suất đối với khách hàng tiêu dùng, xuất khẩu, gói 30.000 tỷ đồng đối với doanh nghiệp… của Agribank. Tính riêng từ 2015 đến nay, Agribank triển khai nhiều chương trình cho vay ưu đãi, hỗ trợ khách hàng như: Cho vay lãi suất ưu đãi đối với 05 lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ theo Thông tư 08/2014/TT-NHNN gồm Cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo NĐ 55/2015/NĐ-CP; cho vay thực hiện phương án, dự án sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu; cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; cho vay phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao với dư nợ trên 142.000 tỷ đồng. Cho vay ưu đãi lãi suất đối với các huyện nghèo theo NQ 30a/2008/NQ-CP, chính sách hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp theo QĐ 68/2013/QĐ-TTg, NĐ 67/2014/NĐ-CP, cho vay xây dựng nông thôn mới… Từ 01/4/2016, Agribank triển khai chương trình cho vay ưu đãi lãi suất bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng xuất khẩu, sử dụng đầy đủ các dịch vụ của Agribank. Sau 20 ngày triển khai, Agribank đã cho vay gần 100 khách hàng, dư nợ gần 1.000 tỷ đồng, lãi suất cho vay bình quân 4,7%/năm.

Hướng dòng vốn vào sản xuất kinh doanh

Thông qua triển khai chính sách tín dụng, Agribank góp phần tạo ra sự tăng trưởng bền vững hơn đối với nền kinh tế, giúp nguồn vốn “chảy” vào các ngành sản xuất thiết yếu.

Tích cực đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp cả nước, đến 25/4/2016, tổng nguồn vốn Agribank đạt trên 833.000 tỷ đồng, dư nợ nền kinh tế đạt trên 681.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng 70,2%. Riêng dư nợ cho vay khách hàng doanh nghiệp đạt trên 217.000 tỷ đồng, trên 364.000 khách hàng doanh nghiệp đang có quan hệ hợp tác với Agribank. Riêng tại khu vực TP Hồ Chí Minh, tại Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, Agribank cam kết giải ngân 1.062 tỷ đồng cho các khách hàng doanh nghiệp trong năm 2016, với các chương trình tín dụng đang được Agribank tập trung triển khai như: cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn; cho vay phát triển công nghiệp hỗ trợ; cho vay bình ổn thị trường…

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Duy Thành – Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu lâm sản Sinh Thành, khách hàng của Agribank cho biết: “So với những giai đoạn trước đây, thì nay thủ tục vay vốn ngân hàng đã thông thoáng hơn nhiều, doanh nghiệp, đặc biệt những doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tiếp cận vốn tín dụng thuận lợi hơn. Trước đây DN tôi phải tìm dến ngân hàng, nay ngân hàng đã tự tìm đến DN động viên vay vốn khi nhìn thấy cơ sở vật chất, nhà xưởng, dòng tiền của DN. Nhờ sự hỗ trợ nguồn vốn kịp thời của ngân hàng, từ chỗ chỉ xuất khẩu một thị trường nay đã mở rộng sang nhiều thị trường khác, doanh thu tăng gần gấp đôi”.

Những giai đoạn trước đây, dù có cơ hội nhưng không có tài sản thế chấp nên doanh nghiệp xuất khẩu nông lâm sản của ông Thành không thể nâng hạn mức vay vốn vì đất lập xưởng sản xuất chưa có sổ đỏ, với đồng vốn eo hẹp chỉ đủ sức xuất khẩu sang một thị trường, nhưng từ khi có chính sách tín dụng ưu tiên lĩnh vực xuất khẩu và nông nghiệp nông thôn, với sự đồng hành tích cực của Agribank, doanh nghiệp của ông Thành đã mở rộng quy mô sản xuất ra thị trường mới như Nam Mỹ,Trung Đông. “Doanh thu của doanh nghiệp đã tăng từ 1 triệu USD lên 2 triệu USD mỗi năm, tạo công ăn việc làm ổn định cho 75 lao động, nếu không được tiếp cận chính sách mới cho vay xuất khẩu thì doanh nghiệp không có được như ngày hôm nay”, ông Thành chia sẻ.

Để tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho khách hàng, Agribank xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đó là tiếp tục cải tiến quy trình, phương pháp cho vay, tiết giảm chi phí để có lãi suất thấp hỗ trợ và mở rộng đầu tư tín dụng cho “Tam nông”… Đồng thời, Agribank đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích đối với khách hàng, trong đó chú trọng triển khai các chương trình cho vay ưu đãi lãi suất nhằm đẩy mạnh dòng vốn cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt quan tâm thúc đẩy phát triển tín dụng góp phần tích cực vào quá trình tái cơ cấu nền sản xuất nông nghiệp xanh, sạch, an toàn và bền vững./.

Chật vật vốn vay, doanh nghiệp tự cứu mình bằng… tín dụng đen

Theo thông tin từ ban tổ chức, hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp diễn ra sáng nay (29/4) sẽ có khoảng 500 doanh nghiệp có mặt tại hội trường Thống Nhất (TPHCM), trong đó, phần lớn là các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Kiến nghị của doanh nghiệp đã được Văn phòng Chính phủ, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổng hợp để gửi lên Thủ tướng; trong đó, mối quan tâm lớn nhất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) vẫn là vốn, tín dụng.

Nguồn vốn ngân hàng đối với doanh nghiệp vẫn còn khó tiếp cận, do lãi suất cao, thủ tục rườm rà...

Nguồn vốn ngân hàng đối với doanh nghiệp vẫn còn khó tiếp cận, do lãi suất cao, thủ tục rườm rà…

Khó vay vốn vì vướng tài sản thế chấp

Phản ánh với Thủ tướng, hội doanh nghiệp quận Hải An, thành phố Hải Phòng cho biết, hiện nay, đa số các doanh nghiệp, trong đó có những DNNVV, đều gặp khó khăn về tài chính.

Nếu như 76% số doanh nghiệp lớn vay được vốn được từ ngân hàng thì tỷ lệ này dành cho doanh nghiệp vừa là 72%, doanh nghiệp nhỏ là 60% và doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ là 38%. Trong khi đó, số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm đến 70% tổng số lượng doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

Nguyên nhân chủ yếu là do áp lực từ việc bắt buộc phải có tài sản thế chấp, thủ tục vay vốn lại phiền hà… Do vậy, DNNVV buộc tự cứu mình bằng cách tìm đến bạn bè, thị trường tín dụng chợ đen.

“Nếu như các doanh nghiệp lớn tìm cách xoay xở, vay được vốn từ thị trường “chợ đen” với mức 1% thì những doanh nghiệp nhỏ phải xoay xở từ thị trường tín dụng này ở mức 6% trên tổng số vốn đầu tư” – bản kiến nghị cho biết. Như vậy, rõ ràng các DNNVV đang thiếu vốn, trong khi việc triển khai quỹ bảo lãnh tín dụng lại chậm và chưa đều khắp. Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp đều đang phải tự thân vận động.

Cùng vấn đề này, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng, mặc dù lãi suất vốn vay tín dụng ngân hàng đã được cải thiện song vẫn còn ở mức cao. Chi phí vay sẽ phản ánh vào giá nên DNNVV khó có thể cạnh tranh trên thị trường nếu không hạ giá sản phẩm. Bên cạnh đó, điều kiện vay vốn tín dụng của các đối tượng doanh nghiệp này cũng còn khó khăn vì không có tài sản thế chấp trong khi nhu cầu về vốn là cần kíp.

“Các cơ sở sản xuất kinh doanh thiếu vốn để đầu tư phát triển sản xuất, mở rộng mặt bằng do mặc dù có năng lực tổ chức sản xuất và thị trường, nhưng không có tài sản thế chấp để vay vốn” – đây là thực tế mà Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh An Giang đưa ra trong bản tham luận. Do vậy, nhìn chung các doanh nghiệp đều kiến nghị nhà nước tạo điều kiện về mặt chính sách những đối tượng doanh nghiệp này có thể dễ dàng, thuận lợi hơn nữa trong tiếp cận nguồn vốn vay.

Doanh nghiệp “sống” phải cõng cả phần nợ doanh nghiệp “chết”

Hiệp hội DNNVV tỉnh Nam Định có kiến nghị, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam được vay ngoại tệ như các doanh nghiệp nước ngoài. Theo hiệp hội này, nếu không được vay ngoại tệ, các doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được với doanh nghiệp nước ngoài.

Các doanh nghiệp Nam Định cho rằng, ngân hàng nên nhận tiền gửi bằng ngoại tệ có lãi suất để huy động được vốn trong và ngoài nước, số ngoại tệ này được quay vòng cho các doanh nghiệp trong nước vay để tránh ngoại tệ chuyển ra nước ngoài.

Nhiều doanh nghiệp phải tìm đến nguồn tín dụng đen để giải quyết nhu cầu về vốn

Nhiều doanh nghiệp phải tìm đến nguồn tín dụng đen để giải quyết nhu cầu về vốn

Chia sẻ ở một khía cạnh khác, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa cho hay, ngày 23/4/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, trong đó cho phép khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn này. Tuy nhiên, đến nay số doanh nghiệp tư nhân được vay ODA mới đếm trên đầu ngón tay.

Chưa kể, thủ tục để doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận nguồn vốn này vốn nan giải. Trong khi đó, với lãi suất thấp, thời hạn cho vay lâu dài, doanh nghiệp nhà nước khi được vay vốn ODA sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh quá lớn đối với doanh nghiệp tư nhân.

Các doanh nghiệp này cho rằng, vốn ODA khi “chảy” vào doanh nghiệp nhà nước có nguy cơ vận động theo “tư duy nhiệm kỳ”, “cơ cấu khóa” dẫn đến tình trạng người đứng đầu thiếu trách nhiệm với đồng vốn, không phát huy hiệu quả, thậm chí gây thất thoát, trở thành gánh nặng cho nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy Việt Nam không thiếu những bài học từ việc cho vay vốn ODA.

Theo quan điểm của Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa, nếu doanh nghiệp tư nhân được ưu tiên vay vốn ODA, hiệu quả sử dụng sẽ cao hơn doanh nghiệp nhà nước vì: “Nếu doanh nghiệp tư nhân không chịu vận động để làm ăn sinh lãi thì sẽ dẫn đến phá sản, thậm chí bị xử lý theo pháp luật. Thế nên, chắc chắn họ phải năng động, sáng tạo, tìm cách vận động để sử dụng đồng vốn hiệu quả, chứ không dám để lãng phí vốn”.

Trước thềm hội nghị, trao đổi với phóng viên Dân Trí, ông Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch VCCI cho biết, chi phí vốn lớn vẫn là một “bài toán” với cộng đồng doanh nghiệp hiện tại, nhất là đối tượng những doanh nghiệp vừa và nhỏ.

“Lãi suất cho vay mà các doanh nghiệp đang phải gánh gồm cả phần nợ xấu của các ngân hàng từ những doanh nghiệp không hiệu quả trước đó. Nếu tình hình này tiếp tục thì doanh nghiệp không có cách nào để đầu tư vào sản xuất được”, ông Lộc cho biết.

Vị Chủ tịch VCCI cũng cho rằng, không thể cứ để doanh nghiệp mới bắt đầu bước vào kinh doanh, nhất lại là các DNNVV phải cõng các khoản nợ của những doanh nghiệp đã chết, những doanh nghiệp kém hiệu quả hay những khoản đầu tư không chuẩn mực trong quá khứ của các ngân hàng thương mại. Do đó, theo ông Lộc “phải có cách để giải quyết dứt điểm nợ xấu chứ không thể dồn cục như vậy”.

Bích Diệp

“Hành trình đi tới giấy phép xây dựng” qua lời một sếp doanh nghiệp

Chuẩn bị cho Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp sắp diễn ra vào sáng nay (29/4), nhiều ý kiến của doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề đã được tổng hợp gửi đến Văn phòng Chính phủ và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Tại hội nghị này, các doanh nhân, doanh nghiệp đều kỳ vọng sẽ giãi bày được những bức xúc nhất về khó khăn, vướng mắc vấp phải tới người đứng đầu Chính phủ, để từ đó nhằm tháo gỡ, đưa môi trường kinh doanh trở nên thông thoáng, thuận lợi hơn như mục tiêu Chính phủ hướng đến.

Việc nhập thiết bị và thi công thì có thời hạn còn việc cấp giấy phép là vô thời hạn

“Việc nhập thiết bị và thi công thì có thời hạn còn việc cấp giấy phép là vô thời hạn”

“Hành trình đi tới một giấy phép xây dựng”

Trong bức “tâm thư” gửi đến Thủ tướng, một vị tổng giám đốc doanh nghiệp phản ánh, thủ tục hành chính đang càng ngày càng giăng mắc, trói chặt các doanh nghiệp bằng các sợi dây vô hình tưởng như không thể nào nới ra được. Điều này thể hiện qua “hành trình đi tới một giấy phép xây dựng” của doanh nghiệp. Theo vị tổng giám đốc, nếu thực hiện đúng theo quy định pháp luật thì để có một giấy phép xây dựng không quá khó khăn, nhưng trên thực tế lại vô cùng phức tạp.

Cụ thể, khi dự án được chấp thuận, quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt, việc tiến hành xây dựng trên quy hoạch này là đương nhiên thế nhưng, để làm được điều này, doanh nghiệp phải qua rất nhiều cửa ải. Cửa ải bắt buộc là “giấy chứng nhận thẩm định phương án Phòng cháy chữa cháy” của cơ quan Phòng cháy chữa cháy (PCCC).

“Tưởng là đơn giản nhưng nếu ai đã từng trải qua thì đều thấy phức tạp”, vị tổng giám đốc cho biết. Câu chuyện mà ông kể gói gọn như sau:

Một công ty của Tổng công ty chúng tôi có dự án xây dựng một nhà máy bê tông đúc sẵn, có phun lửa vào nhà máy cũng không thể cháy được. Một tình thế bất ngờ, một yêu cầu thật lạ lùng mà cơ quan thiết kế đưa ra làm chúng tôi phải đau đầu đó là “thiết kế yêu cầu chúng tôi phải xây tường gạch bao kín các cột thép để phòng gây cháy”!?. Chúng tôi chỉ có thể lựa chọn 1 trong 3 phương án sau đây:

a. Bỏ cột thép thay thế bằng cột bê tông để khỏi phải xây.

b. Theo phương án mà họ đưa ra (xây bịt) để được phê duyệt.

c. Cứ chấp thuận theo phương án của họ để xong thủ tục nhưng khi thi công thì làm theo ý mình.

Nếu theo phương án (a) thì hồ sơ thiết kế nhà máy bị hủy bỏ hoàn toàn và phải làm lại hết, gây tốn kém tiền bạc và kéo dài thời gian làm lại thiết kế nên phương án này bị loại bỏ.

Nếu theo phương án (b) thì cũng không được vì thành “ngớ ngẩn”!.

Vậy duy nhất là phải theo họ nhưng khi làm thì không xây bịt… và phương án này biết trước phải chấp nhận ‘làm luật” cho mỗi lần cơ quan PCCC đến kiểm tra (việc kiểm tra này ít nhất là 1 năm 1 lần và kéo dài gần như vĩnh viễn).

Chặng đường làm thủ tục của các doanh nghiệp rất gian nan (ảnh minh họa)

Chặng đường làm thủ tục của các doanh nghiệp rất gian nan (ảnh minh họa)

Khi được “một cửa chấp nhận” cấp cho giấy hẹn ngày trả tưởng đã xong. Nhưng đến ngày hẹn “một cửa” trả lời đơn giản là “chưa xong”, các sếp bận chưa ký được. Một tuần sau cũng chưa xong, các sếp vẫn bận. Hai tuần sau “một cửa” thông báo sếp về rồi nhưng muốn ký được thì phải “tác động”. Quá mệt mỏi và bức xúc vì một dự án 200 tỷ đồng, thiết bị đã nhập về chất đống đầy sân đã nằm chờ nhiều ngày xin cấp phép xây dựng mà giấy của PCCC còn chưa xong. Không còn cách nào tốt hơn chúng tôi phải nghe theo lời khuyên của “một cửa” là “tác động”. Nhưng có thể “tác động” chưa đủ mạnh nên “một cửa” bảo vẫn phải chờ. Tới lúc này chúng tôi không còn chịu được nữa.

Thái độ của nhân viên một cửa thường rất lạnh lùng, họ bảo việc chờ, việc chậm là bình thường, chuyện bé có gì phải làm ầm lên. Để có một giấy chứng nhận PCCC phải mất 3 tháng. Vẫn còn hàng loạt cửa ải nữa mới mong có được một giấy phép xây dựng”.

“Công chức nhà nước phải bỏ thói vô cảm và vòi vĩnh”

Trong bức thư gửi Thủ tướng, vị tổng giám đốc cho rằng, mặc dù cơ chế “một cửa” được coi là bước tiến trong cải cách hành chính, tạo điều kiện cho người dân, nhưng trên thực tế, “một cửa” vẫn như “nhiều cửa” và xu hướng còn rắc rối hơn. Nói là một cửa, nhưng số chông gai mà doanh nghiệp phải vượt qua vẫn gần bằng tất cả chông gai của “nhiều cửa” ngày trước cộng lại!

Theo vị đại diện, có lẽ vì bộ máy quản lý quá cồng kềnh và còn tình trạng quan liêu, thói quen tệ hại của một bộ phận công chức nhà nước đã làm xấu đi ý nghĩa tốt đẹp của hai từ “một cửa”.

Trong câu chuyện trên, doanh nghiệp phải trình các hồ sơ thiết kế. Để có được bộ hồ sơ này, doanh nghiệp phải nhập toàn bộ thiết bị dây chuyền cho nhà máy. Và như vậy doanh nghiệp phải bỏ tiền vốn của mình ra nhập đầy đủ thiết bị và nằm chờ giấy phép xây dựng. Những điều này dẫn đến nhiều rủi ro cho doanh nghiệp.

Còn thủ tục cấp hạn mức tín dụng của ngân hàng chỉ được xác nhận khi đã có giấy phép xây dựng (nhưng khi đó doanh nghiệp gần như đã bỏ hết vốn tự có ra rồi cần gì tới vốn của ngân hàng nữa). Những điều như thế rất vô lý và luẩn quẩn.

“Thật trớ trêu khi việc nhập thiết bị và thi công thì có thời hạn. Còn việc cấp giấy phép là vô thời hạn” – Vị tổng giám đốc nhận xét, đồng thời cho biết, những trường hợp như trên khiến cỗ máy hành chính vốn được nuôi bằng tiền thuế của dân nhưng khi ai đó cần đến thì lại chỉ nổ máy hoạt động nếu được đổ thêm nhiên liệu.

“Đất nước cần cuộc cải cách thực sự. Bộ máy quản lý nhà nước phải tinh gọn. Công chức nhà nước phải bỏ thói vô cảm và vòi vĩnh. Có như thế thì doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển để đóng góp thiết thực vào công cuộc chấn hưng đất nước” – vị doanh nhân bày tỏ trong bức thư gửi Thủ tướng nhân hội nghị người đứng đầu Chính phủ đối thoại cùng doanh nghiệp.

Bích Diệp