Chủ tịch EVN nói gì về giá điện và tình trạng mất điện?

Chủ tịch EVN:Chất lượng cung ứng điện đã được cải thiện

Chủ tịch EVN:”Chất lượng cung ứng điện đã được cải thiện”

Thưa ông, vẫn có nhiều ý kiến người dân và cả Đại biểu Quốc hội nêu về giá điện tăng nhưng chất lượng điện chưa tăng tương ứng, tần suất mất điện hiện vẫn cao. Ông có thể nói gì về thực tế này?

-Về chất lượng điện, chúng ta cần phải nhìn nhận trên các góc độ: Khả năng cung ứng điện, thời gian lắp đặt điện, thời gian và tần suất mất điện, công tác dịch vụ khách hàng. Nhân đây tôi cũng xin cung cấp những con số cụ thể trên các góc độ về chất lượng điện để người dân và bạn đọc có thể chủ động đánh giá về chất lượng cung cấp điện năng của EVN.

Về cung ứng điện, chúng tôi đã nỗ lực cố gắng đáp ứng đủ nhu cầu điện cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tổng sản lượng EVN cung ứng lên hệ thống điện quốc gia (gồm điện sản xuất và mua) 3 năm 2013-2015 là 430,7 tỷ kWh, tăng trưởng bình quân 10,67%/năm, số lượng khách hàng sử dụng điện tính đến cuối năm 2015 là 23,68 triệu khách hàng, tăng thêm 1,27 triệu khách hàng so với cuối năm 2014. Tốc độ tăng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2013-2015 là 10,86% gấp 1,8 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm là 6,03%.

Để đáp ứng kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ gia tăng phụ tải cao chỉ tính riêng trong 3 năm 2013-2015, EVN đã đầu tư phát triển nguồn điện và lưới điện với tổng số vốn là 338.378 tỷ đồng. Hoàn thành đưa vào phát điện 18 tổ máy thuộc 11 dự án với tổng công suất 6.434 MW; hoàn thành 591 công trình lưới điện 110-500 kV với tổng chiều dài đường dây khoảng 8.000 km và tổng dung lượng trạm biến áp tăng thêm là khoảng 30.500 MVA.

Thời gian lắp đặt điện, cấp điện mới, theo nhiều doanh nghiệp, vẫn còn chậm, EVN đã làm gì để cải thiện?

-Trước đây cũng có tình trạng này. Nhưng tôi nghĩ từ năm 2015, các chỉ tiêu về cấp điện mới cho khách hàng có sự cải thiện mạnh mẽ. Cụ thể, năm vừa qua, đã có 92,79% số khách hàng sinh hoạt khu vực thành phố/thị xã/thị trấn được lắp đặt mới và cấp điện trong thời gian tôi đa là 3 ngày (năm 2013 là 70,36%), có 94,53% khách hàng sinh hoạt khu vực nông thôn được lắp đặt mới và cấp điện trong thời gian tối đa 5 ngày (năm 2013 là 70,88%) và 96,41% số khách hàng ngoài sinh hoạt được lắp đặt mới và cấp điện trong thời gian lâu nhất là 7 ngày (năm 2013 là 83,05%).

Tập đoàn đã chỉ đạo các tổng công ty điện lực thực hiện rà sóat thay đổi các qui trình thủ tục nội bộ thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng (các thủ tục của Điện lực) bình quân năm 2015 toàn EVN thực hiện còn 8,77 ngày, giảm 29,23 ngày so với năm 2013.

Mặc dù EVn đã có đầu tư lớn, nhưng lưới điện vẫn phải cải thiện

Mặc dù EVn đã có đầu tư lớn, nhưng lưới điện vẫn phải cải thiện

Thời gian mất điện hiện nay được phản ánh là còn dài. EVN khắc phục điều này như thế nào?

-Tính chung toàn EVN, theo thống kê của chúng tôi, trong 6 tháng đầu năm, tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân (SAIDI) là 806 phút, giảm 18% so với cùng kỳ 2015; tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI) là 0,67 lần/khách hàng (giảm 23%), tần suất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) là 5,75 lần/khách hàng (giảm 12,5%). Chúng ta đang tiệm cận với top 4 ASEAN về các chỉ số SAIDI, SAIFI.

Nếu trước đây các đơn vị thuộc EVN chỉ thực hiện các chỉ tiêu chính về kinh doanh điện năng như: Sản lượng điện thương phẩm, tỷ lệ tổn thất điện năng, giá bán bình quân, tỷ lệ thu tiền điện, thì hiện nay, EVN đã có thêm 14 chỉ tiêu liên quan đến chất lượng dịch vụ khách hàng.

Hiện nay chúng tôi có tổng cộng 858 Phòng giao dịch khách hàng. Tổng số lượng khách hàng đã gọi vào các các trung tâm chăm sóc khách hàng năm qua của EVN là hơn 1,22 triệu cuộc gọi, trong đó các loại dịch vụ có tỷ lệ yêu cầu nhiều nhất là báo mất điện (45,74%), tra cứu thông tin (21,50%).

Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm nay, tỷ lệ đáp ứng đúng yêu cầu tiêu chuẩn dịch vụ của các chỉ tiêu dịch vụ đều tăng cao như: Phục hồi cấp điện sau sự cố trong vòng 2h đạt 97,95%; thông báo ngừng giảm cung cấp điện không khẩn cấp đạt 99,46%; thông báo ngừng giảm cung cấp điện khẩn cấp đạt 99,91%; thay thế thiết bị đóng cắt trung thế 98,82%; lắp đặt công tơ sinh hoạt khu vực thành phố, thị xã, thị trấn dưới 3 ngày đạt 98,04%; lắp đặt công tơ sinh hoạt khu vực nông thôn dưới 5 ngày đạt 99,72%; lắp đặt công tơ ngoài mục đích sinh hoạt dưới 7 ngày đạt 99,71.

Xin trân trọng cảm ơn ông

Hà Nguyễn

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s